Sự cần thiết xây dựng Đề án

1. Cơ sở pháp lý.
  • Quyết định số 641/QĐ-TTg ngày 28/04/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030.
  • Quyết định số 226/QĐ-TTg ngày 22/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”.
  • Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030.
  • Quyết định số 189/QĐ-BYT ngày 17/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành “10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý đến năm 2020” thực hiện Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến măm 2030.
  • Thông tư liên tịch số 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/5/2016 của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về công tác y tế trường học.
  • Quyết định số 1340/QĐ-TTg ngày 08/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình sữa học đường cải thiện tình trạng dinh dưỡng góp phần nâng cao tầm vóc trẻ em mẫu giáo và tiểu học đến năm 2020.
  • Quyết định số 196/QĐ-BGDĐT ngày 16/01/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc phê duyệt phần mềm “Xây dựng thực đơn cân bằng dinh dưỡng”.
  • Công văn số 576/BGDĐT-CTHSSV ngày 16/02/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về triển khai phần mềm “Xây dựng thực đơn cân bằng dinh dưỡng” trong các trường tiểu học trên phạm vi toàn quốc.
  • Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
  • Chỉ thị số 46/CT-TTg ngày 21/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác dinh dưỡng trong tình hình mới.
  • Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
  • Quyết định số 718/QĐ-BYT ngày 29/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về Dinh dưỡng đến năm 2020.
  • Quyết định số 1680/QĐ-BGDĐT ngày 26/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Kế hoạch hành động của Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu BCH TW Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.
  • Quyết định số 1092/QĐ-TTg ngày 02/09/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc Chương trình Sức khỏe Việt Nam.
  • Chỉ thị số 4316/CT-BGDĐT ngày 12/10/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục.
  • Quyết định số 41/QĐ-TTg ngày 08/01/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Bảo đảm dinh dưỡng hợp lý và tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên để nâng cao sức khỏe, dự phòng bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản giai đoạn 2018 – 2025”.

2. Căn cứ khoa học và thực tiễn.

Các nguyên nhân của tình trạng dinh dưỡng là phức hợp từ nguyên nhân trực tiếp là ăn uống, bệnh tật đến các yếu tố về chăm sóc sức khỏe và nguyên nhân gốc rễ là sự nghèo đói. Có thể phân nhóm các yếu tố gồm yếu tố nội tại là di truyền, các yếu tố ngoại cảnh trực tiếp (dinh dưỡng bữa ăn, bệnh tật,…), các yếu tố gián tiếp từ hộ gia đình (kiến thức dinh dưỡng, kinh tế hộ gia đình,…) và các yếu tố gián tiếp ở cấp độ cộng đồng (hệ thống hạ tầng cơ sở xã hội, điều kiện môi trường, tôn giáo, văn hóa,…). Có thể thấy có các yếu tố cơ bản, tác động đến dinh dưỡng của người Việt nói chung, trẻ em Việt Nam nói riêng, bao gồm:

2.1. Di truyền:

Yếu tố di truyền quy định tiềm năng cho sự phát triển. Các nghiên cứu cho thấy chiều cao cơ thể người cơ bản là do di truyền quy định, nhưng các can thiệp từ môi trường xã hội và gia đình ảnh hưởng không nhỏ, nếu môi trường, chủ yếu là dinh dưỡng không thỏa mãn thì sẽ không thể phát triển tương xứng với tiềm năng di truyền đã có.

2.2. Dinh dưỡng bữa ăn:

Chế độ ăn uống hợp lý đóng vai trò quan trọng để cải thiện tình trạng dinh dưỡng, phát huy tối đa tiềm năng phát triển. Tiêu thụ quá nhiều thực phẩm, đặc biệt đồ uống ngọt, thức ăn có nhiều đường, nhiều chất béo chuyển hoá, thức ăn nhanh dẫn đến hậu quả thừa cân, béo phì và là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh mạn tính không lây như tăng huyết áp, đái tháo đường, ung thư. Bữa ăn học đường đóng vai trò quan trọng đối với việc phát triển thể chất của học sinh nhưng tại nhiều trường học, bữa ăn học đường thường mới chỉ chú trọng đảm bảo ăn no chứ chưa đáp ứng được các yêu cầu về một bữa ăn đầy đủ vi chất và cân đối.

2.3. Bệnh dịch:

Các nghiên cứu đã ghi nhận rằng nếu thường xuyên mắc các bệnh lý nhiễm trùng như tiêu chảy, thương hàn, sốt rét đều có thể ảnh hưởng bất lợi đến sức khỏe của trẻ nhũ nhi. Hầu hết các nghiên cứu đều xác định tiêu chảy là yếu tố chính dẫn đến suy dinh dưỡng tại các quốc gia đang phát triển. Một em nhỏ bị tiêu chảy nhiều đợt sẽ mất các dưỡng chất và nước theo phân và cũng có thể bị kém hấp thu và giảm cảm giác thèm ăn. Cùng lúc suy dinh dưỡng lại là tác nhân làm giảm khả năng miễn dịch đối với các bệnh lý nhiễm trùng hô hấp cấp tính.

2.4. Tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ trước và trong khi mang thai:

Tình trạng dinh dưỡng của người mẹ có liên quan chặt chẽ tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ và tình trạng dinh dưỡng kém của người mẹ làm hạn chế tăng trưởng của thai nhi, do đó ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ. Bà mẹ có chiều cao thấp so với chiều cao trung bình (dưới 153 cm) có nguy cơ con bị mắc suy dinh dưỡng thấp còi cao hơn so với bà mẹ có chiều cao trung bình. Trọng lượng sơ sinh thấp là một yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần, thể chất và nhận thức của trẻ. Các bé gái được sinh ra bị suy dinh dưỡng khi lớn lên trở thành những bà mẹ bị suy dinh dưỡng và sinh con suy dinh dưỡng theo chu kỳ lặp đi lặp lại.

2.5. Vận động thể chất, rèn luyện thân thể:

Trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ ở thành phố ít vận động ngoài trời. Các bé được chăm sóc quá kỹ nên thiếu vận động, thường xuyên ngồi một chỗ xem tivi, điện thoại…, thay vì rèn luyện thân thể, tập thể dục, chơi các môn vận động như đi bộ, đạp xe, bơi lội, bóng rổ, cầu lông… Bên cạnh đó, các gia đình có khuynh hướng ngủ muộn (sau 22 giờ) làm rút ngắn giấc ngủ sâu. Một giấc ngủ sâu bắt đầu từ khoảng 21 giờ, khoảng 22 giờ đến 3 giờ sáng là lúc cơ thể tiết ra hormon tăng trưởng cao nhất, kích thích xương dài hơn. Thói quen này cũng gây ra những tác hại tiêu cực đến thể lực, hạn chế phát triển chiều cao của trẻ.

2.6. Các yếu tố gián tiếp từ hộ gia đình:

Tình trạng dinh dưỡng của người mẹ có liên quan chặt chẽ tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ nhỏ, nhất là trẻ sơ sinh. Nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã cho thấy rằng tình trạng thiếu năng lượng trường diễn, thiếu máu, tăng cân ít trong thời gian mang thai của bà mẹ là các yếu tố nguy cơ chính tăng tỷ lệ đẻ non, trẻ đẻ nhẹ cân (là trẻ có cân nặng khi đẻ < 2500g), tăng tử vong trẻ sơ sinh. Vì vậy, có thể nói chăm sóc dinh dưỡng cho các bà mẹ tương lai, đặc biệt là các bà mẹ đang mang thai chính là chăm sóc dinh dưỡng sớm cho trẻ.

Trình độ học vấn của bà mẹ có liên quan đến sự hạn chế về kiến thức chăm sóc nuôi dưỡng trẻ. Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) không hợp lý (như cho bú gián đoạn, cai sữa sớm đột ngột) hoặc cho ăn bổ sung quá sớm với các loại thực phẩm nghèo protein và năng lượng là những nguyên nhân quan trọng gây suy dinh dưỡng. NCBSM là một thực hành phổ biến ở nước ta với khoảng 98% trẻ em Việt Nam được bú sữa mẹ. Mặc dù tỷ lệ trẻ được bú mẹ rất cao, nhưng vấn đề còn tồn tại là thời điểm cho bú sữa mẹ và thời gian cho bú sữa mẹ còn chưa hợp lý. Một trong các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em vẫn còn ở mức cao là vấn đề cho ăn bổ sung không hợp lý; như thời gian cho ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn, chất lượng và số lượng thức ăn bổ sung không đáp ứng nhu cầu của trẻ.

lệ trẻ được bú mẹ rất cao, nhưng vấn đề còn tồn tại là thời điểm cho bú sữa mẹ và thời gian cho bú sữa mẹ còn chưa hợp lý. Một trong các nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em vẫn còn ở mức cao là vấn đề cho ăn bổ sung không hợp lý; như thời gian cho ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn, chất lượng và số lượng thức ăn bổ sung không đáp ứng nhu cầu của trẻ.
Kinh tế hộ gia đình: Các gia đình ở nông thôn có điều kiện kinh tế kém hơn, trẻ có nguy cơ mắc suy dinh dưỡng thấp còi cao hơn do khả năng tiếp cận với lương thực thực phẩm hạn chế.

2.7. Các yếu tố gián tiếp từ hộ gia đình:
  • Vệ sinh thực phẩm là yếu tố quan trọng quyết định sức khỏe vì nó có thể dẫn đến nhiễm trùng. Ăn uống và sử dụng thực phẩm, sữa hoặc nước bị nhiễm bẩn có thể gây tiêu chảy và trong trường hợp nhóm dân số dễ bị tổn thương thì có thể dẫn đến suy dinh dưỡng. Ô nhiễm thực phẩm do hoá chất vẫn là một vấn đề nhức nhối chưa có biện pháp giám sát và kiểm soát có hiệu quả. Tình trạng sử dụng các hoá chất, phụ gia thực phẩm không đúng quy định trong quá trình nuôi trồng, sơ chế, chế biến thực phẩm vẫn còn khá phổ biến. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đánh giá đầy đủ về mức độ tác hại của ô nhiễm thực phẩm, nhất là ô nhiễm hoá chất độc hại gây hậu quả lâu dài như ung thư ở Việt Nam.Trong những năm qua, trung bình hằng năm xảy ra khoảng gần 200 vụ ngộ độc thực phẩm có trên 30 người mắc/vụ. Nguy cơ ngộ độc tại các bếp ăn tập thể vẫn luôn hiện hữu. Các cơ sở chế biến thực phẩm thiếu các điều kiện và kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm. Các sản phẩm, nhất là thực phẩm chế biến sẵn, có thể là nguồn gây bệnh. Các vụ ngộ độc thức ăn ở nhiều địa phương còn xảy ra. Thêm vào đó, các quy định còn chưa hoàn chỉnh và ý thức của người sản xuất cũng như kiến thức của người tiêu dùng về mức nguy hại đối với sức khỏe con người khi vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Việc thực hiện các văn bản pháp lệnh của nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa triệt để, sự phối hợp đồng bộ của các ngành liên quan còn chưa chặt chẽ.
  • Tập quán, văn hóa, điều kiện kinh tế: Một số tập quán lạc hậu và văn hóa ảnh hưởng trực tiếp tới thực hành dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em nhỏ còn tồn tại ở nhiều vùng. Mặc dù đã có sự cải thiện về đời sống nói chung, song trên thực tế, phụ nữ, nhất là ở nông thôn, thường phải lao động rất vất vả, ngay cả khi có thai hoặc cho con bú. Thời gian nghỉ trước và sau sinh ngắn là một cản trở với việc thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ, ăn bổ sung của trẻ và quỹ thời gian chăm sóc trẻ.
  • Các điều kiện hạ tầng đảm bảo cho chất lượng của công tác chăm sóc sức khoẻ: Hoạt động chăm sóc sức khoẻ trẻ em qua các chương trình chăm sóc sức khoẻ ban đầu đã có những tiến bộ đáng kể. Tuy nhiên, những điều kiện thiết yếu như nước sạch, công trình vệ sinh, hệ thống nhà trẻ, mầm non vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Điều kiện vệ sinh và cơ sở hạ tầng không đảm bảo là nguyên nhân chính dẫn tới nhiễm giun ở trẻ nhỏ và nhiều bệnh về đường tiêu hóa, hô hấp, da liễu,… khác.
  • Sự thiếu hiểu biết về thực hành dinh dưỡng hợp lý của một bộ phận cư dân đô thị làm tăng tình trạng thừa dinh dưỡng, suy dinh dưỡng thể bụ cùng với các bệnh mạn tính không lây liên quan tới ăn uống.